Tết Trung thu

Trung thu không chỉ là tết dành cho trẻ em như chúng ta thường thấy trong xã hội hiện đại. Từ xa xưa, nó được coi là ngày lễ của những người làm nông nghiệp và dần được gắn những quan niệm mới, ước vọng mới của xã hội khiến nó trở nên sinh động và gần gũi với mọi tầng lớp. Quan trọng hơn, mặt trăng, biểu tượng của khả năng sinh sản và người bảo trợ của đời sống vợ chồng, khiến cho Tết Trung thu cũng là dịp để nam nữ tìm hiểu nhau qua những câu hát đối, hoạt động vui chơi trong đêm trăng rằm. Nhân dịp Tết Trung thu sắp đến, chúng ta cùng đọc lại trích đoạn bài "Tết Trung thu" của GS. Nguyễn Văn Huyên đăng trên tạp chí Indochine năm 1942 để cùng thưởng thức sự phức tạp và thú vị của ngày Tết dân gian này.


Ngày rằm tháng Tám này đúng vào thời điểm giữa ba tháng của mùa thu, được gọi là tết Trung thu hay tết tháng Tám. Vào thời kỳ này, bầu trời trong trẻo và mặt trăng rất tròn, sáng rực rỡ. Ta cảm thấy rất vui thích khi ngắm trăng trong tất cả sự mạnh mẻ và uy nghi của nó. Các nhà nho và nghệ sĩ uống rượu cúc và làm thơ ca ngợi vì tinh tú đẹp của ban đêm theo gương Đường Minh Hoàng, trị vì ở Trung Quốc vào thế kỷ VIII. Đấy là một ông vua nghệ sĩ và họa sĩ, người bảo trợ phong nhã của các nhà thơ. Một đêm rằm tháng Tám, vua ra khỏi cung và được một đạo sĩ chống gậy đến gần, đề nghị vua lên cung trăng dạo chơi. Vua mỉm cười nhận lời. Đạo sĩ bèn tung lên trời chiếc gậy biến thành một chiếc cầu vĩ đại lấp lánh màu bạc. Đạo sĩ mời Minh Hoàng lên cầu. Thế là cả hai đến cung trăng rất nhanh, và tìm thấy ở đây một thế giới khác hẳn trần gian. Không khí ở đây thơm ngát và rất dịu, không đâu sánh kịp. Những nàng tố nga duyên dáng lướt sau những cây đang trổ hoa, trên các thảm cỏ thơm và mượt như nhung. Đi được vài bước, hai người đến trước một cung điện nguy nga. Phía trên, các cửa vào có chạm những chữ vàng “Cung Quảng Hàn”. Trong sân rộng, những thiếu nữ xinh đẹp mặc xiêm hồng và áo trắng múa theo điệu nhạc tuyệt diệu.
Lúc trở về trần gian, trong nỗi nhớ nhung vô hạn những kỳ quan trên cung trăng, Minh Hoàng sai các cung tần múa và đàn ca điệu này. Rồi từ đấy trở đi, trong nhiều thế kỷ, các nhà thơ và nghệ sĩ không ngớt theo gương nhà vua ngợi ca mặt trăng có tòa lâu đài vừa rộng và lạnh là cung Quảng Hàn này.
Nhưng kỷ niệm về Minh Hoàng chỉ mới có gần đây, có lẽ đã chiếm hàng đầu trong tư tưởng ngợi ca tôn vinh con rồng. Chắc hẳn đó là tư tưởng chủ trì của tết Trung thu từ thời thượng cổ. Vì ta không được quên rằng, tất cả các lễ hội của người Việt cũng như của người Trung Quốc đều theo mùa, nghĩa là chúng có liên hệ với sự nối tiếp của thời gian.
Chính là vì ở cái phần châu Á chịu ảnh hưởng Hán này, nơi nghề nông chiếm vai trò hàng đầu, mọi người rất coi trọng những trận mưa làm cho đất đai màu mỡ. Vậy mà, ở xứ này, rồng là biểu tượng của mưa và sự phì nhiêu; tại đây rồng được xem là đại ân nhân. Đây là một con vật tưởng tượng mà một số người cho là có quan hệ với giống cá sấu lợn xưa kia có ở sông Dương Tử bên Trung Quốc và trong vịnh Hạ Long của xứ Bắc Kỳ ở Việt Nam, hoặc ví với con cá sấu xuất hiện để nô giỡn lúc mưa to. Dù sao thì truyền thuyết dân gian cũng coi nó là con vật có vảy to nhất. Nó sống dưới nước và ẩn ở đáy sâu đầm lầy trong các tháng khô ráo mùa đông. Nhưng khi mùa rét đã qua và những cơn mưa đầu tiên đổ xuống, thì nó tỉnh dậy, hiện ra, và như vậy báo trước những trận mưa lớn làm tươi tốt ruộng đồng.

Người ta còn nói rằng, con vật sống dưới nước này đẻ trứng. Mỗi lần nó đẻ mười trứng, trong đó chỉ có quả đầu nở thành rồng. Chín con sau là những vật hoang đường, và mỗi con có một thiên hướng. Một con tên là bi hí và trông giống con rùa lớn, thích mang những gánh nặng. Con thứ hai tên là ly vẫn và trông tựa một con vật bốn chân, nó thích nhìn ngắm. Con thứ ba tên là bồ lao và thích kêu. Đấy là một con vật bốn chân sống dưới biển và giống con cá voi. Nếu ta đánh nó, thì nó kêu rất to. Con thứ tư là can bệ, nó trông giống con hổ và rất khỏe. Đây là một kẻ canh gác rất khéo léo. Con thứ năm là thao thiết, thích ăn uống. Con thứ sáu mang tên là công hạ hay công phúc, thích nước. Người ta còn nói rằng nó thích uống. Con thứ bảy gọi là nhai tí và ưa giết người. Con thứ tám tên là kim nghê, thích nuốt lửa và nhả khói. Con thứ chín được gọi là tiên đồ. Nó giống cái vỏ hến và bao giờ cũng ưa ngậm miệng. Có người gọi nó là tù ngưu và cho rằng nó thích âm nhạc. Người ta còn gọi nó là trào phong, và bảo rằng nó ưa những nơi hiểm trở khó vào.
Như vậy, chỉ con đầu của rồng là thành rồng, và giữ vai trò biến mây thành mưa. Mê tín dân gian còn cho rằng, lúc những con rồng này đánh nhau trên không, thì trời mưa như trút. Và hễ chúng rời nhau ra, thì mưa tạnh. Về điều này, người ta kể rằng, dưới thời nhà Chu, có một trận rồng đánh nhau. Một ngày hè ở thời kỳ này, mọi người nom thấy một luồng sáng trắng từ phương đông của bầu trời bay đến. Cùng lúc đó, một con rồng trắng dài mười trượng bay về hướng tây bắc vừa bay vừa kêu và liếm vuốt. Từ phía tây bắc xuất hiện một con rồng đang cưỡi trên mây. Một trận gió mạnh nổi lên, sấm chớp ầm ầm trên trời. Và tùy theo rồng bay lại gần nhau hay rời xa nhau, mà trời đổ những cơn mưa to hay nhỏ trong nhiều giờ. Cuối ngày, rồng trắng biến mất trong bầu trời, còn rồng đen thì rơi xuống cát.
Như vậy, theo sau sự xuất hiện của rồng là mưa to. Vì thế, ở thời thượng cổ, các vua chúa sai vẽ khắp nơi những con vật huyền diệu này, và ở vương quốc của họ không bao giờ thiếu mưa. Vào đầu thế kỷ VIII, có một trận đại hạn. Vua sai một nhà sư tụng kinh để cầu mưa. Nhưng vị sư tâu: “Hạ thần cần một đồ vật có vẽ hình rồng trên đó. Lúc ấy, thần sẽ có thể gọi mưa đến”. Vua sai tìm kiếm khắp nơi. Mấy hôm sau, người ta kiếm được một tấm gương cổ có một cái cán hình con rồng cuộn khúc. Người ta đưa gương đó cho nhà sư. Vị sư vui mừng reo lên: “Đây là con rồng thật”. Người ta đặt gương lên bàn thờ. Và lúc nhà sư vừa tụng niệm xong, thì trời đổ mưa to.
Như vậy, trong ý thức dân gian, nhờ có nhiều truyền thuyết từ nhiều thế kỷ, rồng có một vai trò hàng đầu trong sự điều tiết các cơn mưa sinh ra những vụ thu hoạch tốt là nguồn gốc của hòa bình xã hội và chính trị. Hàng năm, lịch nước ta nêu con số rồng phải chia nhau nhiệm vụ phân phát những trận mưa trong các tuần trăng tới. Năm Con Rồng vừa rồi, Canh Thìn (1940), có đến mười hai con rồng như vậy. Trong các năm Kỷ Mão, Tân Tỵ và Nhâm Ngọ (1939, 1941 và 1942), chỉ có sáu con. Những người có kinh nghiệm nói rằng, khi nào chỉ riêng một con rồng phải chịu trách nhiệm làm mưa, thì nó làm việc nhiều, và năm đó bị những trận lũ lụt khủng khiếp đe dọa. Trái lại, lúc có quá nhiều rồng, thì chúng ỷ lại vào nhau và trở thành lười biếng. Vì thế, đất nước bị đại hạn đe dọa. Có những lúc, do tính khí thất thường hay do ganh đua nhau, tất cả bọn chúng đều làm mưa, và mặt đất bị những cơn lũ lớn.
Dù sao, thì rồng vẫn được coi là kẻ ban phát ân huệ và hạnh phúc. Mọi người dùng hình ảnh nó để tạo nên mưa thuận gió hòa. Đôi khi người ta vẽ nó ôm một quả cầu, và bức tranh được gọi là “rồng vờn ngọc”. Hòn ngọc này là biểu tượng của mây và sấm sét. Và toàn bộ tranh có lẽ miêu tả một huyền thoại cổ về giông bão.
Mùa xuân, người ta đôi khi mang rồng đi trong các đám rước thần. Nó phải đóng góp cho sự thành công của vụ lúa chiêm. Nhưng hội rồng thật sự là vào Trung thu. Nó phải bảo vệ các vụ gặt lớn tháng Mười. Đêm rằm tháng Tám ta, người ta long trọng rước rồng qua các phố, đi trước là những lá cờ ngũ sắc, những đèn lồng hình hoa quả, tôm cá hay những vật quý, những tấm biển sáng với hàng chữ “Hoàng Long Thịnh Thế” (mong rồng vàng làm cho cuộc sống phồn thịnh) hay “Thiên Hạ Thái Bình”.
Rồng đan bằng tre, phủ giấy và vải. Người ta cho nó một cái mình đầy vảy và gai màu lam hoặc xanh, một cái đuôi lởm chởm, cái đầu có râu ria rậm rạp, mắt sáng quắc liếc đi liếc lại, bốn chân lủng lẳng với móng vuốt khủng khiếp. Nó được lắp trên những chiếc sào để cho những người khiêng nó, bản thân cũng ăn mặc sặc sỡ, lượn vòng để làm cho mình rồng cũng uốn lượn như rắn. Người ta làm cho nó biểu diễn và múa theo tiếng chiêng, tiếng trống trước mặt “hòn ngọc”, xung quanh là mây và ánh chớp được vác ở đầu một cái gậy tre bởi một người phủ đầy mình những tấm băng nhiều màu. Thấy nó đi qua, những nhà giàu có sung túc đốt pháo để mừng nó và để lấy khước nhờ sự có mặt của rồng.
Trong đám rước, đi theo rồng là một con sư tử, chỉ có cái đầu đan bằng tre và phết giấy, nối vào đấy một tấm vải dài màu đỏ. Cái đầu này được một người nâng lên đầu, dùng hai tay lúc lắc nó giả làm một điệu múa sư tử. Một người khác cầm đầu tấm vải và múa theo động tác của người múa sư tử di chuyển khi sang phải, khi sang trái, lúc quay tròn, để tạo cho con vật có một cái mình và một cái đuôi.
Những chủ nhà giàu có cho treo trên bao lơn nhà mình, cách mặt đất năm sáu mét, một phong bao đỏ đựng một số tiền từ mười đến hai chục đồng bạc để thưởng cho những người múa “rồng” và múa “sư tử” giỏi. “Sư tử” phải trèo lên những sào tre để với lấy món tiền thưởng. Lên tới đầu cái thang tạm bợ của mình, nó phải làm động tác vờn mồi trong khi rồng múa quanh nó. Lúc nó đã giật được giải thì pháo nổ ran, sư tử nhảy xuống đất, múa trước ngôi nhà một điệu múa để cám ơn vị chủ nhà hào hiệp, chúc ông ta thịnh vượng và có con cháu hạnh phúc.
Nhưng, cũng bằng những điệu múa rồng và sư tử như vậy, người ta tạo ra cho cả nước những trận mưa tốt lành. Và qua đó, như các hàng chữ đã nói, mọi người bảo đảm cho mình có cuộc sống phồn thịnh và sự yên ổn tuyệt vời.
Tuy nhiên, điệu múa chung của rồng và sư tử đó, tạo ra sự thái bình và thịnh vượng, phải chăng ghi lại truyền thuyết cuộc giao tranh giữa mặt trời và mặt trăng với con kỳ lân mà ở nước ta mọi người đã nhầm lẫn với con sư tử, được coi là chúa tể sơn lâm. Thật vậy, người ta kể rằng mặt trăng và mặt trời, trong cuộc vân du của chúng, bị con kỳ lân tiến công. Khi mặt trời và mặt trăng bị nó vồ, thì trái đất chìm trong tối tăm. Thế là ta có nhật thực, nguyệt thực. Mọi người phải cứu thoát mặt trời và mặt trăng bằng cách đánh trống và bắn tên. Ở xứ sở này, nơi người ta khiếp sợ những tác động có hại của nhật thực và nguyệt thực, người ta cho rồng đi diễn và múa với kỳ lân thay sư tử) là để cho thế giới thái bình, và để bằng cách đó, tránh cho con vật hoang đường khỏi ăn thịt mất các vì tinh tú lớn điều chỉnh chu kỳ vũ trụ của thời gian.
Pha vào những truyền thuyết về rồng cổ nhất trái đất ở các dân tộc làm nghề nông này, với sự phát triển của thiên văn hay triết học, dân gian hay bác học, đã được ghép thêm những tín ngưỡng về mặt trăng, cũng được coi như thuộc về thủy và như biểu tượng của sự phì nhiêu.
Đêm Trung thu, mọi người tụ họp xem trăng lên. Và tùy theo màu sắc cùng dáng vẻ của vì tinh tú này, người ta rút ra các điềm báo trước tương lai của đất nước. Nếu trăng sáng vằng vặc, ta sẽ có một vụ bội thu. Nếu ta thấy trăng màu vàng, tằm sẽ nhả nhiều tơ. Mặt khác, ta có thể đọc trong các sách cổ rằng khi mặt trăng chuyển sang màu xanh hay màu lam, thì sẽ có nạn đói. Nếu trái lại, trăng ngả sang màu vàng, thì cả nước sẽ sống thái bình và đức hạnh. Đêm ấy, nếu ta nhận thấy một chiếc mũ phía trên mặt trăng, thì thế gian sẽ vui vẻ. Nhưng nếu trăng có chân, thì vua sẽ ham mê tửu sắc, hoặc vua sẽ bạo hành. Khi trong nước có một mưu toan nổi loạn, hay trên thế giới có những dấu hiệu một cuộc chiến tranh sắp nổ ra, thì người ta có thể nhận thấy trăng có vuốt và có răng.
Thói quen quan sát mặt trăng đêm rằm tháng Tám đã tạo ra trong trí tưởng tượng dân gian cả một thế giới huyền điệu. Trong các truyền thuyết mặt trăng này, con cóc có một vị trí lớn. Nó gần với con ếch, có tiếng kêu ồm ộp mà người ta nói là làm trời đổ mưa. Mọi người nhìn thấy nó ở mặt trăng và gọi nó là thiềm thừ. Chính do đấy mà bản thân mặt trăng được gọi trong thơ là Thiềm cung (Cung con cóc).
Con vật này có lẽ đã có đến ba nghìn năm tuổi. Xưa kia nó sống trên mặt đất, bên bờ đại dương và ăn thịt những khách đi đường qua tầm với của nó. Để cải hóa nó, Ngọc Hoàng sai dẫn nó lên mặt trăng để trở thành kẻ gác Cung Quảng Hàn.
Có những truyền thuyết khác cho rằng con cóc này chỉ có ba chân, hai chân trước, một chân sau, đã sống trên trái đất dưới hình dạng một người đàn bà. Đấy là vợ chàng cung thủ Hậu Nghệ rất thiện xạ, một trong những anh hùng của thời huyền thoại.
Ở thời kỳ ấy, có mười anh em mặt trời lần lượt xuất hiện để chia ánh sáng và sức nóng cho thế giới. Một hôm, cả mười mặt trời cùng xuất hiện, như vậy đe dọa đốt cháy cả trái đất. Hậu Nghệ dùng cung tên bắn rơi được chín mặt trời. Sau đó được Tây Vương Mẫu ban thưởng thuốc trường sinh bất tử. Nhưng vợ chàng, nhân lúc chồng đi vắng, lấy trộm thuốc ra uống. Nàng chưa kịp uống xong thì chàng về, thế là nàng sợ hãi bỏ trốn. Nhờ có thuốc đã uống, nàng có thể bay lên trời. Nhưng vì nàng chưa uống hết liều, nên phải dừng lại giữa đường và ở lại mặt trăng, ở đây nàng biến thành con cóc ba chân.
Nhưng nếu vợ Hậu Nghệ lên đến mặt trăng liền biến thành cóc, thì chàng Cuội chăn trâu trong các truyền thuyết của người Việt đã bị đưa lên đây dưới dạng người để chuộc tội cho những chuyện nói dối độc ác của hắn ta. Người ta chỉ cho trẻ con Việt Nam xem hắn ngồi dưới cây đa, trong các bóng râm lớn mà người ta nhìn thấy trên mặt trăng.
Một con vật khác mà ta nhận ra trên mặt trăng nữa là con thỏ (thỏ nhà hay thỏ rừng) mà đức từ bi của đạo Phật coi như biểu tượng của con người từ thiện. Lại có người cho rằng những con thỏ này thụ thai trong khi ngắm trăng. Vì vậy, người ta căn cứ vào ánh trăng thu sáng như thế nào để đoán thỏ sẽ đẻ nhiều hay ít con. Như vậy thỏ trở nên biểu tượng của khả năng sinh sản nhiều. Và do đấy nó được gắn bó chặt chẽ với trăng và rồng.
Mặt trăng, được coi là biểu tượng của khả năng sinh sản, trở thành người bảo trợ của phụ nữ và của đời sống vợ chồng. Trên mặt trăng có cung của ông Nguyệt lão và bà Nguyệt, cả hai đều quyết định việc hôn nhân của mọi người trên trái đất. Truyền thuyết kể rằng, Vi Cố may mắn được gặp “ông Nguyệt lão”. Người ta kể rằng, một hôm Vi Cố đi qua thành phố và thấy ở một góc phố một ông lão ngồi dưới ánh trăng tay cầm quyển sách. Vi Cố hỏi ông già trong sách viết gì, và được trả lời rằng số phận hôn nhân của tất cả mọi người đều được ghi trong đó. Rồi chỉ cho Vi Cố một gói chỉ đỏ, ông già nói: “Tôi buộc chân đàn ông và đàn bà với nhau bằng chỉ này. Dù họ sinh ra ở những gia đình thù ghét nhau, hay quê quán ở xa nhau đến đâu chăng nữa, thì số phận của họ cuối cùng chắc chắn cũng được thực hiện”. Sung sướng vì gặp được ông thần hôn nhân, Vi Cố hỏi ông: “Cụ có thể nói cho tôi rõ ai sẽ là vợ tôi không?”. Ông lão trả lời: “Con gái bà bán rau trong cửa hiệu kia sẽ là vợ anh”. Rồi ông biến mất. Sự tò mò thúc đẩy Vi Cố đến gần cửa hiệu đó và anh thấy một người đàn bà bế một bé gái hai tuổi trông xấu xí. Muốn ngăn lời tiên tri của ông già bí ẩn không thực hiện được, anh ta thuê một tên vô lại giết đứa bé. Nhưng tên này chém trượt và chỉ gây cho nạn nhân một vết xước sâu phía trên lông mày. Hoảng sợ, Vi Cố bỏ trốn, ẩn trong một ngôi nhà và bắt đầu học hành, đỗ đạt cao trong các kỳ thi, và được vào cung vua bệ kiến. Một vị đại thần gả cho anh ta cô con gái nuôi. Chính đấy là người mà Vi Cố đã định hãm hại. Sau khi kết hôn, anh ta mới nhận ra nàng.
Vậy chính bằng những sợi chỉ tơ hồng mà ông tơ ràng buộc các cặp vợ chồng tương lai. Ông ta càng buộc họ chặt, họ càng xích gần nhau, càng yêu nhau. Trai gái chỉ chắc chắn về tình yêu của họ và được gắn bó với nhau trong tương lai bằng hôn nhân nếu sợi được xe để thành chỉ. Họ còn ngập ngừng khi chỉ bị rối. Có trường hợp Nguyệt lão xe sẵn chỉ trước, buộc cặp vợ chồng tương lai. Chính vì vậy mà một số cuộc cưới xin được dễ dàng: người ta không cần phải đợi cho đến khi chỉ được xe xong.
Dù sao, Trung thu, tết của mặt trăng, đồng thời cũng là tết dạm hỏi, lúc cả nam và nữ đều tìm cách làm vừa ý người khác và tìm thấy trong đám đông người bạn đời tương lai của mình. Họ tụ tập từng nhóm từ sáu đến tám người, ngay lúc sẩm tối, trước cửa hay trong sân nhà mình. Họ đứng thành hai phe, một phe nữ, một phe nam. Và họ vừa hát đối vừa ngắm trăng. Người con trai (hay người con gái) có thể bị loại vì hát tồi hay vì không tìm được câu thơ đáp lại đối phương. Cuộc thi hát đối đáp này chỉ kết thúc khi tất cả những người hát của một phe đều bị loại, chỉ trừ một. Lúc mỗi bên chỉ còn một người hát, thì ai thắng được giải nhất, còn người kia giữ giải nhì. Phần thưởng này là tiền, lụa, chè hay cái quạt.
Tiếp theo những cảnh hát đối đáp này thường là lễ dạm hỏi và cưới xin: người con gái vừa có sắc vừa có tài được đối phương mình lấy làm vợ, hoặc được một chàng trai đã dự hội dạm hỏi. Nếu những cuộc hát đối đáp này không được kết thúc bằng dạm hỏi thì ít nhất đây cũng là cơ hội để trai gái làm quen nhau.
Ở các gia đình giàu có và danh giá, con trai và con gái không được phép hát như thế. Tuy nhiên, những cô gái thuộc gia đình thượng lưu, để tỏ tài mình trước mắt các chàng trai và các bà mẹ chồng tương lai, đều nhân dịp tết tháng Tám, cũng gọi là tết trẻ em, để đua tài bằng cách làm đủ loại đồ vật với bột giấy, hoa quả, v.v... Tết được chuẩn bị từ hai ba tháng trước. Tất cả các cô gái trong gia đình đều bắt tay vào việc làm ra những vật tí xíu dưới sự chỉ dẫn của bà mẹ. Với các quả cây, các cô làm những bông hoa hồng, hoa nhài, bông sen... Những cô gái khác làm hoa bằng giấy, bằng lụa, nhung.... Những cô gái khác nữa gọt bằng bột nhuộm nhiều màu những con cá, tôm, tôm hùm, những con vật hoang đường và những cây hiếm có.
Đêm Trung thu, cả nhà tưng bừng. Một chiếc bàn được kế giữa nhà. Chiếc bàn được biến thành một khu rộng có tường bao quanh trong đó có cung điện, vườn, đền chùa, và trong đó những cảnh sinh hoạt hoang đường và lịch sử được dựng lại với những đồ vật bằng giấy, bằng bột và quả cây. Và tất cả những vật đó được trình bày giữa vô số những quả trứng nhuộm ngũ sắc, biểu tượng của khả năng sinh sôi nảy nở, các quả dừa được biến thành những con thỏ hiền lành và nhút nhát, những con sư tử và kỳ lân lởm chởm lông làm bằng quả bưởi đã bóc vỏ, các bó mía màu thắm đẹp, biểu tượng của sự sum họp lứa đôi bền vững, những chiếc bánh dẻo và bánh nướng tiêu biểu cho mặt trăng với đàn thỏ, con cóc hay hai con rồng cuộn quanh vì tinh tú lớn ban đêm, v.v... Phòng lớn được thắp những đèn lồng hình con cá, hình những đèn kéo quân tả những chiến trận lừng danh, những cảnh lịch sử, cảnh một vị anh hùng tiến vào một tòa thành, hay một nhà sư đang tụng kinh trước bàn thờ Phật.
Cửa mở toang, và tất cả những ai ăn mặc tươm tất đều có thể vào nhà. Cô gái có vai trò tích cực nhất trong việc chuẩn bị tết thì lui vào một căn phòng có mành che kín. Trẻ con nô đùa xung quanh bàn dưới sự chỉ dẫn của các anh trai và chị dâu. Khách có thể tự do đi xung quanh bàn. Họ bình phẩm, cười vui. Rồi sau khi khen ngợi và cảm ơn chủ nhà, họ đi ra và tới các gia đình khác. Các vị quý khách thì được cha mẹ tiếp. Và các cô gái chỉ ra khi bố mẹ gọi bưng nước mời khách.
Tết kéo dài như vậy suốt đêm trong các đại gia giàu có, trong khi, ở bên ngoài, trên các đường phố lớn, không dứt tiếng trống, chiêng, chũm chọe đi theo những đám rước rồng và kỳ lân đẹp ngoạn mục.
Đây là những tết Trung thu, có lẽ thoạt đầu được quan niệm là một lễ hội ca ngợi con rồng hay những con vật dưới nước nào đó được biến thành quái dị và thần kỳ bởi óc tưởng tượng của các nghệ sĩ và được những người cày ruộng thời xưa gắn cho rằng khả năng làm cho mưa thuận gió hòa. Rồi sau đấy, và hầu như cùng một lúc, người ta ghép vào đó mặt trăng xuất hiện đồng thời với tất cả ánh sáng vằng vặc tròn đầy của nó. Rồi đến đàn bà mà hệ ý thức chính thống cho là thuộc âm, ca ngợi mặt trăng có phép làm sinh nở đó như vị thần bảo trợ, như vị nữ thần thực hiện những ước nguyện thầm kín của họ. Đến khi các vị thần của thế giới tự nhiên trở thành những con người với sự phát triển của vương quyền, thì trăng chỉ còn được coi là chỗ ở trên trời của “ông Tơ” hay “bà Nguyệt”, có nhiệm vụ gắn bó trai gái với nhau bằng những sợi chỉ hôn nhân.
Như vậy, tết Trung thu, trong một quá trình diễn biến lâu dài của tư tưởng và phong tục, đã trở thành ngày hội lớn của tuổi trẻ, trong đó trai gái gặp gỡ nhau và hát đối đáp giữa các đám đông và dưới ánh trăng. Họ trao cho nhau những quà tặng gồm quạt, vòng tay là những vật làm tin. Họ cùng nhau nhai trầu, là thứ ở nước này có giá trị giao ước. Trong các cuộc hát đối đáp đó, họ tha hồ tìm hiểu nhau. Những lời thề thốt được trao đổi trịnh trọng trước ánh trăng, rực rỡ xuất hiện uy nghi như một vị thần chứng giám. Và như vậy, ở cuộc đấu tao nhã này nảy nở một tình yêu và những giá trị. Có trường hợp những mối dây chắc chắn ràng buộc các lứa đôi này và những đám cưới được cử hành vào ngày lành tháng tốt của mùa xuân sau.
Thậm chí về sau, cùng với phong tục trở nên tinh tế hơn, với sự phát triển của nền văn hóa cổ điển và sự tỏa sáng của ý thức hệ Nho giáo chính thống, các nghệ sĩ đã biến tết Trung thu thành một cái tết ngắm và thưởng trăng. Đêm đó, khi trăng đã lên ngự uy nghi ở điểm cao nhất của bầu trời, vào thời kỳ này thường rất quang và trong vắt, các nhà thơ tụ họp nhau để uống “rượu hoa vàng” dưới bóng những cây trúc, và nhắm những con ốc ở tháng này của mùa thu thường béo hơn ở những thời kỳ khác, và để cùng nhau ứng tác, những vần thơ ca ngợi thiên nhiên vĩnh cửu và tuyệt đẹp. Thường thường, ở những con người đã cao tuổi này, dù họ đã thành đạt hay không trong cuộc đời, trong khi chếnh choáng “hơi men” và giữa bầu không khí cực kỳ trong và trống rỗng này, hay nảy một niềm hoài vọng sâu xa đến thế giới bên kia. Mặc dầu những tiếng cười vang và những sự tinh tế trong cuộc họp thú vị của một nhóm người ngẫu hứng ngồi lại với nhau trong một buổi tối thú vị này, ai cũng cảm thấy mình có thể từ bỏ tất cả trên nhân thế này để theo lên cung trăng cùng chung số phận với chú Cuội hay nói dối chẳng biết là khôn hay dại.
Trái lại, những thanh niên đã hoặc sắp sửa học hành thành tài lại vui tết Trung thu theo kiểu của họ. Đối với họ, đây là ngày tết của tương lai, ngày tết mở đầu cho các kỳ đỗ đạt sắp tới của họ. Con cóc ba chân trên mặt trăng trở thành con Cóc vàng, Kim thiềm, biểu tượng của sự đỗ đạt ở kỳ thi Hương và của việc leo lên các chức vụ cao của Triều đình. Cây đa che cho chú Cuội của dân gian trở thành cây nguyệt quế có hoa nở về mùa thu và đôi khi rụng xuống mặt đất. Cái cây hiếm hoi này, với những cành nhánh oai vệ, là biểu tượng của sự đỗ đạt vinh quang. Đêm đó, ai cũng mong muốn lên cung trăng, qua giấc mộng, bằng một chiếc thang “mây”, mây đan hay mây trời, để hái một cành kỳ diệu của nó. Nếu người đó thành công, anh ta chắc chắn sẽ đỗ trong kỳ thi Đình sắp tới.
Cả những con cá chép, soi mình trong ánh trăng dưới đáy nước hoàn toàn trong trẻo vào tiết Trung thu, đối với họ cũng trở thành biểu tượng sự thi đỗ. Đêm đó, cá chép tìm cách nuốt trăng để đạt đến sự hoàn thiện, hòng có thể “vượt vũ môn” vào đầu hè tới. Thật vậy, người ta kể rằng, năm nào chúng cũng bơi trong đêm mồng 4 tháng Tư ta đến hẻm vực rất dốc của một ngọn suối trên trời để tìm cách nhảy qua vực. Có người cho rằng hẻm vực này là ở huyện Hương Sơn, tỉnh Nghệ An, Trung Kỳ. Dù thế nào, những con vượt được qua vũ môn cũng lập tức biến thành rồng. Thế mà cũng có một sự biến hóa tương tự đến với các nho sinh lúc họ thành công vượt qua được những kỳ thi văn chương đáng sợ, được đỗ đạt. Cửa cung vua hay “Điện rồng” sẽ mở rộng đón họ. Và con đường này sẽ dẫn họ một cách thắng lợi đến các chức vụ cao nhất của Triều đình, tham vọng của tất cả các nho sinh.
Vì thế, ở tết Trung thu này, người ta bày lên bàn dành cho trẻ con tất cả các hình trạng nguyên, tiến sĩ... của những khoa thi ngày xưa, hình bàn thờ gia tộc, các đình làng, là những nơi mà các vị tân khoa sẽ phải đến long trọng làm lễ khi vinh quy về làng.
Trung thu ở nước Việt Nam này đã trở thành một ngày tết mang tính chất phức tạp thú vị, đến nỗi cũng như tất cả các lễ hội có đặc tính dân gian khác, nó làm cho ai cũng quan tâm và sung sướng, bất kể họ thuộc giai tầng nào hay lứa tuổi nào trong nước. Thoạt tiên được coi là ngày lễ của người làm ruộng chỉ lo lắng đến các vụ thu hoạch của mình, nó đã được những quan niệm mới và ước vọng mới của xã hội làm trẻ lại và trở nên sinh động. Là ngày tết của dạm hỏi, nó góp phần to lớn làm cho xích lại gần nhau các nhóm, và các gia đình sống tách biệt hẳn nhau sâu sắc kể từ sau những ngày lễ hội của Tết Nguyên đán vừa qua. Là ngày tết của lớp tuổi trẻ học trò, nó mang lại cho mọi người hy vọng rằng, trong những ngày sắp đến, họ có thể thờ vua giúp nước, và họ sẽ xứng đáng với lòng tin cậy của các bậc huynh trưởng cũng như của các cô vợ xinh đẹp và đức hạnh đang trông mong, trong sự im lặng và tần tảo, được theo sau chàng trong đám rước vinh quy trên những chiếc võng điều.


Tác giả: GS. Nguyễn Văn Huyên
Nguồn tiếng Pháp: Indochine, Hebomadaire, Illustré , số 108, 24/7/1942
Người dịch: Đỗ Trọng Quang
(Nguồn tiếng Việt: Nguyễn Văn Huyên toàn tập, Văn hóa và Giáo dục Việt Nam, tập 2, NXB Giáo dục, 2001, tr. 953-969.)

Liên kết hữu ích

THÔNG TIN TUYỂN SINH NĂM 2017

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ

THÔNG BÁO HỌC SINH, SINH VIÊN

THÔNG BÁO

Điểm thi

Thiết kế website tại Vinh

công ty quảng cáo tại nghệ an