Thực trạng công tác xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc từ 2011 đến nay

1. Công tác xây dựng nền văn hóa Việt Nam dưới ánh sáng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)

Nếu Đại hội VI của Đảng mở đầu cho công cuộc đổi mới thì với việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sau đây gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991), Đại hội VII đã hoạch định đường lối của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong đó có đường lối về văn hóa. Trên cơ sở xác định “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” là một trong sáu đặc trưng của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Cương lĩnh năm 1991 chỉ ra nội dung, phương hướng căn bản xây dựng, phát triển nền văn hóa đất nước nhằm “tạo ra một đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ”.

Sau 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Đại hội XI của Đảng đã tổng kết, đánh giá những kết quả to lớn đạt được cùng với những hạn chế, khó khăn và những vấn đề còn tiếp tục phải giải quyết. Từ những bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình tổng kết thực tiễn ấy, Đảng ta đã có nhiều nhận thức mới về mặt lý luận làm cơ sở cho việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh của Đảng - Cương lĩnh năm 2011. Đối với lĩnh vực văn hóa, từ quan điểm nhất quán về một “nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ”, Cương lĩnh năm 2011 và Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (Nghị quyết số 33-NQ/TW), đã tiếp tục làm sâu sắc hơn nội dung, tính chất, vai trò, tầm quan trọng của văn hóa, cũng như mối quan hệ giữa văn hóa với con người và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Trong đường lối đổi mới xây dựng, phát triển đất nước, Đảng xác định ba trụ cột quan trọng nhất, trong đó, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm và xây dựng văn hóa trở thành nền tảng tinh thần của xã hội. Trên cơ sở ấy, Cương lĩnh năm 2011 nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hóa với vai trò không chỉ là “nền tảng tinh thần vững chắc” của xã hội, mà còn là “sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”. Đó là nền văn hóa phát triển hài hòa, kế thừa và phát huy các truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu được những tinh hoa văn hóa của nhân loại; thấm đẫm những giá trị nhân văn, dân chủ, tôn vinh cái đẹp cùng phẩm giá con người; thể hiện bản lĩnh vững vàng, đấu tranh với cái xấu, cái thấp hèn và những biểu hiện phản văn hóa. Việc coi văn hóa như một “sức mạnh nội sinh”, một điều kiện sống còn bảo đảm cho công cuộc xây dựng, phát triển bền vững đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ các thành tựu cách mạng, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là một nhận thức mới về vai trò văn hóa. Nhận thức ấy bắt nguồn từ thực tiễn sinh động của cách mạng để nhận ra chân bản chất của văn hóa, thấy rõ hơn khả năng thực tế của văn hóa với tính chất là sức mạnh mềm, có thể biến sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất, nhân lên sức mạnh vật chất để thúc đẩy phát triển xã hội. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa chính là một thứ sức mạnh dẫn dắt đối với mỗi con người, đối với cả dân tộc, văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ.

Trong định hướng đường lối, Nghị quyết số 33-NQ/TW yêu cầu “Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”. Đây là một đòi hỏi xuất phát từ nhận thức về bản chất, tầm quan trọng của văn hóa. Đồng thời, đó cũng chính là yêu cầu từ thực tiễn đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Trên thực tế, trong khi những thành tựu về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của chúng ta rất to lớn, thì thành tựu trong lĩnh vực văn hóa là “chưa tương xứng”, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra với tính chất “nền tảng tinh thần” cho sự phát triển đất nước. Sự hạn chế về văn hóa thể hiện trên nhiều khía cạnh, từ đạo đức, lối sống, môi trường văn hóa, cơ sở hạ tầng văn hóa, đến đời sống văn hóa, quản lý, giáo dục văn hóa, văn hóa truyền thông, chất lượng các công trình văn hóa, nghệ thuật... Nguyên nhân của những hạn chế đó bắt nguồn từ nhận thức về văn hóa chưa rõ, chưa đủ, dẫn đến tập trung quan tâm cho chính trị, kinh tế và các lĩnh vực khác mà chưa coi trọng đúng tầm cho văn hóa, chưa có những giải pháp tích cực, cách làm hiệu quả, chưa có sự đầu tư các nguồn lực hợp lý để xây dựng, phát triển nền văn hóa đất nước.

Cương lĩnh năm 2011 cũng đã có bước đi quan trọng trong nhận thức về con người. Đó là sự kế thừa nhất quán, sáng tạo những nhận thức đúng đắn, nhân văn của Đảng ta về con người, thể hiện ở mục đích của cuộc cách mạng do Đảng phát động và lãnh đạo thực hiện chính là vì giải phóng con người, vì hạnh phúc nhân dân. Nhưng muốn đạt đến mục đích chung nhất ấy cần phải nắm được tính chất, yêu cầu của vấn đề con người, mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa con người với văn hóa và các lĩnh vực khác trong những điều kiện cụ thể. Trong điều kiện đất nước bị thực dân đô hộ, đế quốc giày xéo, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn và cũng là đặt ra mục tiêu cụ thể của cách mạng là “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Khi công cuộc đổi mới đã thu được những thành tựu có tính lịch sử, đời sống vật chất của nhân dân được cải thiện, đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vấn đề con người được Đảng quan tâm toàn diện hơn, sâu rộng hơn. Bởi thế, Cương lĩnh năm 2011 khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển”. Từ nhận thức con người là nhân tố quyết định, là mục tiêu của phát triển, đồng thời là “tác giả”, là nguồn lực quan trọng nhất của phát triển, Nghị quyết số 33-NQ/TW triển khai thành quan điểm chỉ đạo: “Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế”. Cương lĩnh năm 2011 cũng đồng thời đề ra yêu cầu quan tâm đầy đủ hơn, toàn diện hơn đến con người về đời sống vật chất, đời sống tinh thần, về điều kiện, khả năng phát triển một cách toàn diện, về việc được bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng trong mối quan hệ hài hòa với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân. Và toàn bộ sự phát triển xã hội là nhằm mục đích “vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao”, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ trong mối quan hệ gắn bó với “quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”. Nhận thức đó cũng là sự kế thừa, tiếp nối quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”, dựa vào “sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người” để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Cương lĩnh năm 2011 nhận thức vấn đề về văn hóa trong sự thống nhất hữu cơ với con người. Con người chính là biểu hiện tập trung nhất của văn hóa. Mặt khác, xây dựng văn hóa chính là nhằm phục vụ cho con người, phát triển con người. Như Nghị quyết số 33-NQ/TW khẳng định, “Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa”. Sự phát triển của con người, đến lượt nó lại chịu sự tác động trở lại của văn hóa. Đó là văn hóa gia đình, văn hóa cộng đồng, văn hóa trong chính trị, văn hóa trong kinh tế, những yếu tố, điều kiện tạo thành một môi trường sống, hằng ngày, hằng giờ tác động vào quá trình hình thành lối sống, nhân cách và phẩm giá của con người. Từ nhận thức ấy, Cương lĩnh năm 2011 đề ra phương hướng “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” gắn bó hữu cơ, chặt chẽ với “xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội”. Cụ thể hóa Cương lĩnh năm 2011, Nghị quyết số 33-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu “xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách”, đồng thời “hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới chân - thiện - mỹ”. Trong đó, giáo dục có vai trò quan trọng đặc biệt, góp phần trực tiếp vào việc phát triển con người và phải đi trước một bước. Đó cũng là một trong những lý do để Đảng ta chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nhìn lại Cương lĩnh năm 2011, có thể nói, nhận thức mới của Đảng ta về văn hóa thể hiện chủ yếu ở việc đánh giá đầy đủ hơn vai trò, vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội và trong mối tương quan với các lĩnh vực khác; nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn các vấn đề về phát triển con người trong mối liên hệ chặt chẽ với văn hóa. Những nhận thức mới ấy là sự kế thừa và phát triển sáng tạo những quan điểm, đường lối cơ bản của Đảng ta về văn hóa trong điều kiện hiện nay, khi đất nước đã có nhiều thay đổi, cuộc sống của nhân dân đã có những cải thiện quan trọng. Đó cũng chính là cơ sở để Đảng, Nhà nước ta đề ra và tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách cụ thể, đưa lại những kết quả to lớn trong xây dựng nền văn hóa và phát triển con người.

Tóm lại, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được đề cập trong nhiều văn bản quan trọng, đặc biệt từ Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, ngày 16 tháng 7 năm 1998. Trong đó, tính tiên tiến và bản sắc dân tộc được hòa quyện, gắn bó hữu cơ trong các yếu tố cấu thành của nền văn hóa, đảm bảo tính kế thừa và phát triển, vừa giữ gìn các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời đảm bảo tính mở, tiếp thu tinh hoa của văn hóa nhân loại. Đồng thời, nội hàm của tính tiên tiến và bản sắc văn hóa cũng được xác định rõ, phù hợp với mục tiêu, đặc điểm, truyền thống của đất nước trong quá trình đi lên CNXH. Theo đó, tiên tiến trong văn hóa trước hết là nền văn hóa yêu nước và tiến bộ, nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tất cả vì con người, vì tự do, hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa tự nhiên và xã hội; tiên tiến không chỉ thể hiện ở nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức thể hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung; bản sắc văn hóa dân tộc, là các giá trị đặc trưng, tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách, bản chất riêng của nền văn hóa, là dấu hiệu cơ bản để phân biệt nền văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác, đó cũng là tổng hòa các khuynh hướng sáng tạo văn hóa, được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, thể chế chính trị…trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Bản sắc văn hóa được thể hiện rõ trong truyền thống dân tộc, là các giá trị văn hóa tiêu biểu được trao truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, được khai thác và phát huy, tiếp tục bồi đắp, tạo nên dòng chảy văn hóa của dân tộc từ quá khứ đến hiện tại và tương lai.

Mục tiêu chung hướng đến của quá trình xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam là phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, hướng tới chân-thiện-mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Đây là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải có bước đi phù hợp, thích ứng với điều kiện, trình độ phát triển về kinh tế, xã hội, bối cảnh trong nước và quốc tế. Trong quá trình đó, việc từng bước xây dựng nền văn hóa tiên tiến, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa hết sức quan trọng. Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển năm 2011), gọi tắt là Cương lĩnh 2011 đã chỉ rõ, để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đòi hỏi: “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người”, Nghị quyết 33-NQ/TW, khóa XI ngày 9 tháng 6 năm 2014, đưa ra 5 quan điểm: (1) Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. (2) Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. (3) Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, có lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. (4) Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế. (5) Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng. Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng khẳng định: “Trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội đều phải đề cao nhân tố văn hóa, con người. Mọi hoạt động văn hóa, từ bảo tồn, phát huy các di sản lịch sử, văn hóa; phát triển văn học, nghệ thuật, báo chí, xuất bản đến bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số, văn hóa tôn giáo, xây dựng các thiết chế văn hóa,… đều phải phục vụ thiết thực sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa, con người”.

Nhờ những định hướng đúng đắn đó, việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Đảng, Nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước các cấp đã bàn hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng về các lĩnh vực phát triển văn hóa. Đến nay, cả nước có trên 40.000 di tích văn hóa được xếp hạng, trong đó có 3.491 di tích cấp quốc gia, 105 di tích quốc gia đặc biệt, 8 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và 12 di sản văn hóa phi vật thể, 7 di sản tư liệu được UNESCO công nhận. Đáng chú ý là có 145/288 di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số, được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; nhiều lễ hội, sự kiện văn hóa trong và ngoài nước được tổ chức, trong đó có các lễ hội, liên hoan nghệ thuật truyền thống của các dân tộc thiểu số; hệ thống bảo tàng tiếp tục được mở rộng và ngày càng đổi mới về nội dung và hình thức trình bày, thực hiện tốt công tác giáo dục truyền thống, nâng cao giá trị văn hóa, khoa học cho người dân, nhất là thế hệ trẻ; các thiết chế văn hóa được quan tâm xây dựng và từng bước hiện đại, phát triển rộng khắp từ trung ương tới cấp xã, bao gồm 21.084 thư viện, phòng đọc và hơn 26.000 thư viện các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, hệ thống giáo dục quốc dân, thư viện chuyên ngành. Trung tâm văn hóa, nhà văn hóa không chỉ được mở rộng ở một số quốc gia, ở trong nước cũng được phát triển đến các thôn, bản; vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong xây dựng con người mới, gia đình hạnh phúc, môi trường văn hóa lành mạnh luôn được quan tâm.

Đầu tư cho sự nghiệp văn hóa không chỉ được coi trọng từ nguồn ngân sách nhà nước mà còn thu hút ngày càng lớn từ nguồn xã hội hóa; Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa không ngừng lớn mạnh, trong đó có cả văn hóa quần chúng, nghệ nhân và văn hóa đỉnh cao; phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được mở rộng và từng bước đi vào chiều sâu, tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng, đạo đức, lối sống cho các tầng lớp nhân dân; hệ thống thông tin, báo chí, xuất bản phát triển rộng khắp từ trung ương đến địa phương với tất cả các loại hình báo chí, đáp ứng nhu cầu về thông tin trong nước và quốc tế cho người dân, cùng với các lĩnh vực văn hóa khác, góp phần thu hẹp sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền. Trong điều kiện công nghệ thông tin, internet, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, Việt Nam rất coi trọng bảo vệ, gìn giữ văn hóa truyền thống, đấu tranh chống lại các sản phẩm phi văn hóa, các thông tin sai trái, thù địch. Ngoài ra, các lĩnh vực về quyền tác giả, các quyền liên quan, công nghiệp văn hóa được xác định sớm, tầm nhìn đến năm 2030, với 12 ngành chính; hội nhập quốc tế về văn hóa, thực hiện các điều ước quốc tế song phương và đa phương, thông tin đối ngoại và hợp tác quốc tế về văn hóa tiếp tục phát triển sâu rộng.

Tuy nhiên, thực tiễn xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, bất cập như: Chưa phát huy hết vai trò, tiềm năng của văn hóa đóng góp vào sự phát triển của đất nước, ở một số nơi chưa thực sự đặt văn hóa ngang bằng với kinh tế, xã hội; công tác tổ chức thực hiện chủ trương, quan điểm phát triển văn hóa ở một số lĩnh vực, địa phương còn hạn chế, cơ chế chính sách còn bất cập, đầu tư chưa tương xứng với yêu cầu phát triển, một số thiết chế văn hóa chưa sử dụng có hiệu quả; việc thu hẹp khoảng cách hưởng thụ về văn hóa giữa các vùng miền, đặc biệt những nơi khó khăn còn chậm. Số lượng tác phẩm văn hóa có giá trị cao về tư tưởng, nghệ thuật chưa tương xứng với yêu cầu phát triển văn hóa, đồng thời vẫn còn không ít tác phẩm chạy theo thị hiếu tầm thường, chất lượng thấp…Thực tế trên có nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan, như: Tình hình trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi, một số lĩnh vực chưa lường hết được tác động của tàn dư văn hóa cũ, lạc hậu, của mặt trái cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế; nhận thức và việc cụ thể hóa chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước về văn hóa ở một số địa phương, lĩnh vực chưa theo kịp yêu cầu phát triển; điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam còn không ít khó khăn, do đó đầu tư cho phát triển văn hóa còn hạn chế. Những ưu điểm, hạn chế được cụ thể dưới đây:

2. Những ưu điểm, hạn chế

2.1. Ưu điểm

Mười năm thực hiện Cương lĩnh năm 2011 đã mang lại cho đất nước ta những thay đổi to lớn về đời sống văn hóa, xây dựng con người. Các thế hệ con người Việt Nam, từ những lớp người sinh ra và trưởng thành trong đấu tranh cách mạng, đến những lớp người sinh ra và trưởng thành trong hòa bình đã kết nối truyền thống tốt đẹp, phát huy trí tuệ, tài năng, tính năng động, sáng tạo, làm chủ nhiều tiến bộ khoa học - công nghệ, thích ứng nhanh chóng với cơ chế kinh tế mới, vượt qua những thử thách, khó khăn, chung sức xây dựng đất nước. Cơ đồ, diện mạo đất nước, vị thế quốc tế, mối quan hệ rộng lớn với các quốc gia trên thế giới hiện nay, chính là bằng chứng rõ ràng, biểu hiện sinh động, tập trung nhất cho tinh thần, sức mạnh và khát vọng phát triển của văn hóa, con người Việt Nam. Đó cũng là hệ quả tất yếu của sự đổi mới trong nhận thức, đổi mới chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, tạo điều kiện ngày càng tốt hơn, thuận lợi hơn cho sự phát triển toàn diện của văn hóa và con người Việt Nam.

Trước hết, thể chế bảo đảm cho quyền, lợi ích chính đáng, sự phát triển của con người ngày càng được hoàn thiện theo nguyên tắc “thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển”. Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa các quyền, các điều kiện bảo đảm lợi ích chính đáng của con người. Nhiều bộ luật, luật được xây dựng hoặc sửa chữa bổ sung, liên quan đến quyền tự do sáng tạo, quảng bá các giá trị văn hóa, nghệ thuật; quyền tự do và trách nhiệm trong hoạt động báo chí, truyền thông; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tiếp cận thông tin và thực hành dân chủ... Các dự án phát triển kinh tế không chỉ được đánh giá về tác động môi trường, mà còn phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu bảo đảm cải thiện cuộc sống cho người dân có liên quan.

Những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới xây dựng, phát triển đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã giúp cho đời sống vật chất được cải thiện không ngừng - một điều kiện cơ bản, hàng đầu bảo đảm cho sự phát triển của con người Việt Nam. Thu nhập bình quân đầu người trong cả nước năm 2020 đã tăng hơn 2 lần so với thời điểm năm 2010. Đầu tư của Nhà nước cho khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, nhất là đường giao thông, hạ tầng giáo dục, được quan tâm hơn. Tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước từ 14,2% giảm còn dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều). Chương trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được những kết quả quan trọng, thực sự góp phần cải thiện toàn diện cuộc sống của cư dân nông thôn. Dịch vụ y tế ngày càng được nâng cao về chất lượng, thuận lợi về điều kiện tiếp cận. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng nhanh, từ 60,9% năm 2010 lên 90,7% năm 2020. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam được cải thiện từng năm, thuộc nhóm nước có chỉ số phát triển con người trung bình cao của thế giới. Công tác bảo vệ môi trường sống, ứng phó với những nguy cơ từ an ninh phi truyền thống, như nước biển dâng, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường... được chú trọng, bắt đầu từ hoàn thiện thể chế, chính sách đến việc dự báo, phát hiện và xử lý kịp thời.

Đời sống tinh thần của con người Việt Nam ngày càng được cải thiện, phong phú và toàn diện hơn. Mạng lưới giáo dục quốc dân được tăng cường, cơ sở hạ tầng giáo dục được cải thiện, đội ngũ nhà giáo được phát triển, có nhiều chính sách bảo đảm cho mọi người dân đều có quyền, khả năng được hưởng thụ nền giáo dục suốt đời. Sự phát triển của hệ thống giáo dục và đào tạo không chỉ góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội, mà còn là một yếu tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách, lối sống cho thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện rộng rãi với những chế định bảo đảm ngày càng chặt chẽ. Việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở đã đóng góp tích cực vào việc thực hiện quyền làm chủ của người dân, bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng của họ trong các quyết định về kinh tế - xã hội ở các địa phương. Việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã thúc đẩy sự hình thành văn hóa đảng, văn hóa trong chính trị, với nội dung cơ bản là tôn vinh và bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh, các đức tính cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu đi đầu trước nhân dân của cán bộ, đảng viên và toàn hệ thống chính trị. Hàng loạt các phong trào, như “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, xây dựng gia đình văn hóa mới, văn hóa công sở, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân... đã góp phần tạo nên chuyển biến to lớn trong xây dựng con người, ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, xuống cấp về đạo đức xã hội, tạo lập môi trường xã hội lành mạnh, tích cực.

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí được đẩy mạnh không chỉ vạch mặt, chỉ tên những kẻ lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong bộ máy hệ thống chính trị để thu lợi bất chính dưới mọi hình thức, không chỉ nhằm thu lại những tài sản của Nhà nước, của nhân dân bị thất thoát, mà quan trọng hơn là qua đó lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, là đưa ra “gương xấu” để răn đe, giáo dục về đạo đức công vụ cho chính đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Quan điểm đổi mới của Đảng về tự do tôn giáo, tín ngưỡng và tự do không tôn giáo, tín ngưỡng, về dân tộc, về an sinh, phúc lợi xã hội, được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013 và trong hệ thống pháp luật. Nhiều chủ trương, chính sách trong lĩnh vực văn hóa - xã hội được thực hiện. Các tín ngưỡng truyền thống được tôn trọng và phát huy ý nghĩa xã hội tốt đẹp. Các tôn giáo được hoạt động thuận lợi theo chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng bào các dân tộc thiểu số được tạo điều kiện để phát triển kinh tế, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa bản sắc. An ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm. Đời sống vật chất, tinh thần và an sinh xã hội của đồng bào các tôn giáo, các dân tộc thiểu số được cải thiện.

Các hoạt động văn hóa, như văn học, nghệ thuật, thư viện, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, đều được quan tâm phát triển, có những công trình, tác phẩm có giá trị, có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc. Chỉ tính riêng năm 2019, 59 nhà xuất bản trong cả nước đã xuất bản trên 33.000 đầu sách với 400 triệu bản in, hàng nghìn sách điện tử đã được phát hành. Hệ thống báo chí, truyền thông đại chúng phát triển nhanh, ngày càng hiện đại. Hàng trăm kênh phát thanh, truyền hình đang hoạt động, trong đó có nhiều kênh kết nối, hợp tác quốc tế. Theo số liệu thống kê năm 2019, ở Việt Nam đang có 64 triệu người sử dụng in-tơ-nét, chiếm 66% dân số, 143,3 triệu thuê bao điện thoại, bằng 148% dân số, trong đó phần lớn người dân sử dụng điện thoại thông minh, loại phương tiện có thể truy cập in-tơ-nét mọi nơi, mọi lúc trên lãnh thổ Việt Nam. Sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại tạo điều kiện mở và thuận lợi cho người dân Việt Nam có nhiều cơ hội để mở mang tri thức, giao lưu, kết nối văn hóa với các dân tộc, các nền văn hóa trên thế giới. Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao đều có sự mở rộng, đạt nhiều kết quả tích cực.

Có thể nói, những kết quả xây dựng, phát triển nền văn hóa trong 10 năm qua là rất to lớn, toàn diện. Những kết quả ấy, trước hết là hệ quả trực tiếp của đường lối đổi mới của Đảng về phát triển văn hóa thể hiện trong Cương lĩnh năm 2011. Đồng thời, những kết quả đó cũng bắt nguồn từ những nguồn cội văn hóa tốt đẹp của dân tộc và sự lao động sáng tạo với khát vọng phát triển của mỗi người dân.

2.2. Hạn chế

So với những thành tựu trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng; chưa đủ để tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng.

Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng.

Còn ít những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có một số tác phẩm chạy theo thị hiếu tầm thường, chất lượng thấp, thậm chí có hại. Hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật chưa theo kịp thực tiễn sáng tác.

Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, nguy cơ mai một chưa được ngăn chặn. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển thiếu quy hoạch khoa học, gây lãng phí nguồn lực và quản lý không theo kịp sự phát triển. Một số cơ quan truyền thông có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích. Cơ chế, chính sách về kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, về huy động, quản lý các nguồn lực cho văn hóa chưa cụ thể, rõ ràng. Hệ thống thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn hóa còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp.

Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao còn nhiều hạn chế, bất cập.Tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ.

2.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Cùng với những kết quả to lớn trong 10 năm thực hiện Cương lĩnh năm 2011, lĩnh vực văn hóa cũng đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên lĩnh vực này cũng còn không ít hạn chế.

Nhận thức về văn hóa và mối quan hệ giữa xây dựng văn hóa với phát triển con người, về vai trò, vị trí của văn hóa trong xây dựng, phát triển đất nước, có nơi, có lúc chưa đầy đủ, chưa sâu sắc. Triển khai đường lối xây dựng văn hóa của Đảng trong Cương lĩnh và các nghị quyết Đại hội Đảng chưa thật đồng bộ và toàn diện. Một số cấp ủy đảng, chính quyền còn lúng túng trong việc thể chế hóa yêu cầu coi văn hóa ngang bằng với chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh. Việc xây dựng và xác định hệ giá trị chuẩn mực văn hóa, con người Việt Nam còn chậm, kéo theo sự lúng túng, không thống nhất trong việc xây dựng các quy định, chuẩn mực văn hóa trong chính trị, kinh tế, trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị.

Trong thực tiễn, tình hình tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội tuy đã được cải thiện, song vẫn còn diễn biến phức tạp. Hưởng thụ văn hóa giữa đô thị với nông thôn, giữa đồng bằng, trung du với khu vực vùng sâu, vùng xa còn chênh lệch. Tệ nạn xã hội, tội phạm còn phức tạp, tồn tại nhiều hiện tượng trái với thuần phong, mỹ tục, làm cho môi trường văn hóa chưa thật lành mạnh. Những kết quả trong hoạt động văn học, nghệ thuật, trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển nhanh nhưng chưa hợp lý; còn có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích trong một số cơ quan, đơn vị; công tác quản lý các phương tiện truyền thông mới chưa chặt chẽ, nhiều thông tin tiêu cực, sai trái trên mạng in-tơ-nét và các kênh truyền thông xã hội gây nhiễu loạn nhận thức, bức xúc cho người dân. Đấu tranh phản bác các tư tưởng sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, các truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc còn nhiều hạn chế. Nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực văn hóa còn nhiều hạn chế, bất cập. Hợp tác quốc tế về văn hóa hiệu quả chưa cao, chưa theo kịp yêu cầu phát triển.

Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trên đây chủ yếu là do một số cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đầy đủ lĩnh vực này, dẫn đến lãnh đạo, chỉ đạo chưa thật quyết liệt. Việc cụ thể hóa, thể chế hóa nghị quyết của Đảng còn chậm, thiếu đồng bộ và trong một số trường hợp thiếu khả thi. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa chậm được đổi mới, có lúc, có nơi bị xem nhẹ, thậm chí buông lỏng, kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm. Đầu tư cho lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng và còn dàn trải. Chưa nắm bắt kịp thời những vấn đề mới về văn hóa để đầu tư đúng hướng và có hiệu quả. Chưa quan tâm đúng mức công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Từ yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới, trên cơ sở nghiên cứu, xem xét tình hình và kết quả thực hiện Cương lĩnh năm 2011, người nghiên cứu có thể đưa ra một số giải pháp để xây dựng nền văn hóa đất nước trong thời gian tới.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài viết mới

Tin tức nổi bật