Một số vấn đề lý luận về hoạt động giáo dục phát triển toàn diện phẩm chất năng lực người học trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

  1. Một số khái niệm

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, phát triển cách mạng 4.0 và hội nhập quốc tế hiện nay, các nước đều quan tâm xây dựng mục tiêu giáo dục để có được mô hình lý tưởng về nhân cách con người mà nền giáo dục mong muốn đạt được phù hợp với yêu cầu xã hội, đáp ứng yêu cầu lý tưởng về phẩm chất và năng lực con người trong thế kỷ XXI. Xu hướng mục tiêu giáo dục của các nước tiên tiến hiện nay đều theo hướng tiếp cận năng lực người học, chú trọng cả yêu cầu đối với xã hội và cá nhân nhằm phát triển cá nhân đồng thời đáp ứng yêu cầu xã hội.

Luật Giáo dục (2019) xác định: Mục tiêu giáo dục của nước ta là “phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”.

a. Hoạt động giáo dục toàn diện phẩm chất năng lực người học

Hoạt động giáo dục toàn diện phẩm chất năng lực người học là các “hoạt động giáo dục nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội”[5;44].

b. Phẩm chất

Theo từ điển Tiếng Việt, “phẩm chất là cái làm nên giá trị của người hay vật. Hoặc: Phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin, tình cảm, giá trị cuộc sống; ý thức pháp luật của con người được hình thành sau một quá trình giáo dục”.

c. Năng lực

Có nhiều quan điểm về khái niệm “năng lực”:

Theo từ điển Tiếng Việt, năng lực có hai nghĩa: 1. Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. 2. Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [8, tr.656].

- Có thể hiểu một cách khái quát: Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp xã hội hay cá nhân trong từng tình huống khác nhau, trên cơ sở hiểu biết kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.

- Cũng có quan niệm cho rằng: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phản ánh bởi cách làm việc hiệu quả và có trách nhiệm, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, trong những tình huống khác nhau, trên cơ sở có kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm đảm bảo cho các hoạt động có kết quả tối ưu” [5;297].

Theo các quan niệm trên, một người được đánh giá là có năng lực về một lĩnh vực nào đó, nghĩa là, không chỉ có kiến thức, kỹ năng, thái độ vào một hoạt động cụ thể, trong một điều kiện cụ thể, mang lại những giá trị tương ứng.

Phát triển năng lực ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là phát triển năng lực nhận thức và kỹ năng vận dụng kiến thức vào việc giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Hay nói cách khác, phát triển năng lực người học là tạo cho người học có khả năng đáp ứng được những yêu cầu của nhận thức, của việc phát triển tri thức và vận dụng tri thức vào các hoạt động đạt kết quả cao. Năng lực người học do nhiều thuộc tính cấu tạo nên, đó là: thuộc tính mang tính chất bẩm sinh – di truyền như tư chất, thiên hướng, năng khiếu hay tài năng; thuộc tính tâm lý như tình cảm, lý trí, tính cách; thuộc tính xã hội như trình độ học vấn, sự sáng tạo, linh hoạt trong các hoạt động và môi trường giáo dục. Như vậy, năng lực của người học là tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ học tập. Năng lực được thể hiện ở những mặt cơ bản sau: năng lực nhận tri thức và phát triển tri thức; năng lực độc lập, sáng tạo, giải quyết một cách linh hoạt và hiệu quả những nhiệm vụ đặt ra; năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức, năng lực phân tích.

Năng lực người học bao gồm những thuộc tính, những mặt rất cụ thể. Do đó, để phát triển năng lực người học, thì trước hết phải phát triển những thuộc tính, những mặt cụ thể nói trên. Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nói riêng và các bậc học nói chung nhằm phát triển năng lực người học, không thể không hướng đến những thuộc tính, những mặt rất cụ thế ấy.

Khi nói đến năng lực người học, thường gắn liền với phẩm chất của nó. Phẩm chất của người học được thể hiện qua các mặt đó là phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị, lối sống, ý thức, trách nhiệm, niềm tin lý tưởng. Những mặt đó phải thông qua giáo dục hình thành và phát triển. Vì thế, phát triển phẩm chất của người học phải thông qua giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý của người học; đấu tranh, ngăn chặn đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức, lối sống và những hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống xã hội và trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập như hiện nay, con người – nguồn lực đóng vai trò quyết định, cần có cả năng lực và phẩm chất. Năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia đang chuyển mạnh từ nguồn tài nguyên, vốn sang nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Phát triển nguồn nhân lực không chỉ chú ý đến năng lực mà không chú ý đến phẩm chất. Nguồn nhân lực để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế phải là sự tổng hợp cả thể lực, trí lực và tâm lực. Tâm lực đó chính là cái cốt lõi của phẩm chất con người và được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế xã hội. Tăng trưởng kinh tế không phải bằng mọi giá, mà tăng trưởng kinh tế phải gắn với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Thông thường, người ta chia năng lực thành năng lực chung và năng lực chuyên môn (năng lực chuyên biệt). Năng lực chuyên biệt được hình thành trên cơ sở tiếp nhận tri thức của các môn khoa học như: toán học, vật lý, hóa học, sinh học, văn học, lịch sử, địa lý, kinh tế, chính trị, luật học, âm nhạc, mỹ thuật… Hay nói cách khác, năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng ở những lĩnh vực nhất định. Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là phải hướng đến phát triển năng lực người học tương xứng với lĩnh vực đó. Phát triển năng lực cho học sinh, sinh viên trường nghề không chỉ phát triển năng lực chuyên môn mà còn phải phát triển năng lực chung. Nếu dựa vào mức độ phát triển cá nhân thì năng lực chung có “năng lực học tập”, “năng lực nghiên cứu” (năng lực sáng tạo). Còn theo giáo sư tâm lý học người Mỹ Howard Gardner, con người có 7 năng lực, tương đương với 7 loại trí tuệ khác nhau: 1) Năng lực trí tuệ ngôn ngữ (năng lực diễn tả ngôn ngữ dễ dàng bằng nói hay viết; 2) Năng lực trí tuệ logic-toán (năng lực tính toán phức tạp và lý luận sâu sắc); 3) Năng lực trí tuệ không gian (khả năng tiếp nhận thế giới bằng thị giác – không gian, cho phép con người tưởng tượng ra sự vật, con người ở các góc nhìn khác nhau); 4) Năng lực trí tuệ hình thể (các yếu tố cơ bản giúp cơ thể vận động khéo léo); 5) Năng lực trí tuệ âm nhạc (năng lực tạo ra sự thưởng thức nhịp điệu, cung bậc, âm sắc, biết thưởng thức các dạng biểu cảm của âm nhạc); 6) Năng lực trí tuệ giao tiếp (thể hiện ở khả năng hướng các hoạt động trí tuệ ra giao tiếp bên ngoài, trong mối quan hệ với người khác; 7) Năng lực trí tuệ nội tâm (năng lực đánh giá cảm xúc cá nhân, sự phân biệt giữa cảm xúc và hành vi, hiểu những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân),…

Trong các năng lực nói trên, trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực, người giáo viên, giảng viên cần quan tâm đến năng lực tự học của học sinh, sinh viên.

Năng lực tự học là một trong những dạng năng lực chung quan trọng cần được hình thành và phát triển cho người học ở các các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thông qua hoạt động dạy học các môn học. Năng lực tự học giúp người học có khả năng học tập, tự học suốt đời để có thể tồn tại, phát triển trong xã hội tri thức và hội nhập quốc tế.

Như vậy, năng lực của con người về một lĩnh vực nào đó được thể hiện qua khả năng thực hiện các hoạt động của họ trong lĩnh vực đó. Theo Tâm lý học, năng lực của con người mang dấu ấn cá nhân, có thể có được nhờ sự bền bỉ, kiên trì học tập, rèn luyện, trải nghiệm. Khi quy năng lực về phạm trù khả năng, phạm trù hoạt động, phạm trù thuộc tính cá nhân, các nghiên cứu đều đồng nhất quan điểm: Người có năng lực về lĩnh vực nào đó đòi hỏi phải có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực hoạt động đó và biết cách tiến hành hoạt động có hiệu quả trên cơ sở vốn kiến thức, kĩ năng đó với tinh thần ứng phó linh hoạt những tình huống phát sinh trong quá trình hoạt động. Năng lực gồm có năng lực chung và năng lực đặc thù. Năng lực chung là năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ người nào cũng cần phải có để sống và học tập, làm việc. Năng lực đặc thù thể hiện trên từng lĩnh vực khác nhau như năng lực đặc thù môn học là năng lực được hình thành và phát triển do đặc điểm của môn học đó tạo nên. Mục tiêu giáo dục theo tinh thần đổi mới là: “phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”. Toàn diện ở đây được hiểu là chú trọng phát triển cả phẩm chất và năng lực con người, cả dạy chữ, dạy người và dạy nghề. Giáo dục và đào tạo phải tạo ra những con người có phẩm chất, năng lực cần thiết như: trung thực, nhân văn, tự do sáng tạo, có hoài bão và lý tưởng phục vụ Tổ quốc, cộng đồng; đồng thời phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, làm chủ bản thân, làm chủ đất nước và làm chủ xã hội; có hiểu biết và kỹ năng cơ bản để sống tốt và làm việc hiệu quả…

Quá trình dạy học chỉ có kết quả khi người học tự nỗ lực, tự học để nắm vững tri thức mà nhân loại đã tích lũy được. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự phát triển như vũ bão của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi sâu sắc về cách sống, cách làm việc trong mối quan hệ tương tác với nhau. Sự biến đổi không ngừng của hoàn cảnh xã hội đòi hỏi mỗi con người cần phải liên tục cập nhật kỹ năng, hoàn thiện mình để thích ứng với tình hình mới. Chính vì vậy, giáo dục càng phải tập trung phát triển toàn diện năng lực của cá nhân dựa trên việc áp dụng các công nghệ đột phá. Xu hướng cá nhân hóa học tập liên quan đến việc giảng dạy phải được thực hiện theo nhịp độ phù hợp với nhu cầu học tập, được thiết kế theo sở thích và sự hứng thú cụ thể của từng người học; được thực hiện bằng cách cung cấp các lựa chọn từ nhiều chương trình giáo dục (từ nhiều trường phái, môn học, kỹ năng và năng lực khác nhau), nhiều cách tiếp cận giảng dạy (trực tiếp, gián tiếp, tương tác, thực nghiệm hoặc độc lập), trải nghiệm học tập (truyền thống như trong lớp học, phi truyền thống như trực tuyến hoặc kết hợp) và các chiến lược hỗ trợ học tập (các dịch vụ giáo dục sẵn có để hỗ trợ người học và thúc đẩy quá trình học tập). Về mặt nội dung, các chương trình giáo dục phải giúp người học hình thành năng lực sáng tạo và tư duy phản biện, khả năng giao tiếp và hợp tác, kỹ năng tự học, có kiến thức về kỹ thuật số và dữ liệu, có kiến thức liên ngành để có thể chuyển đổi công việc. Về mặt phương pháp sư phạm, phải tạo ra cơ hội để xây dựng một “hệ sinh thái” học tập cho phép cá nhân hóa việc học tập về mặt thời gian và địa điểm. Người học phải được hướng dẫn để có năng lực tự học và thiết kế các lộ trình học tập của riêng mình dựa trên các mục tiêu cá nhân qua việc sử dụng linh hoạt các công cụ, như khóa học trực tuyến theo mô hình khóa học trực tuyến đại chúng mở (Massive open online course, viết tắt là MOOC), các lớp học, phòng thí nghiệm ảo và các trò chơi học tập, sử dụng đa dạng các hình thức dạy học kết hợp (blended learning), dạy học theo dự án, dạy học dựa vào kịch bản và dạy học định hướng giải quyết vấn đề.

Những yêu cầu hiện đại hóa, quốc tế hóa giáo dục với mục tiêu đào tạo ra những “công dân toàn cầu” đã đặt ra trách nhiệm của từng học sinh là phải chủ động với bản thân mình và với xã hội. Công dân toàn cầu là người có khả năng hành động hợp tác, có trách nhiệm, sáng tạo giải quyết những vấn đề chung của cộng đồng, góp phần làm cho địa phương, đất nước, thế giới tốt đẹp và phát triển bền vững; giao tiếp, thích ứng trong những môi trường văn hóa khác nhau, môi trường đa văn hóa; tôn trọng quyền con người, sự đa dạng; trân trọng, phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc, đất nước mình, đồng thời có ý thức học hỏi những tinh hoa văn hóa của các dân tộc, quốc gia khác.

Những quan điểm về giáo dục công dân toàn diện hướng tới công dân toàn cầu hiện đã được phản ánh trong việc xác định mục tiêu đổi mới chương trình, sách giáo khoa, giáo dục phổ thông “phát triển con người Việt Nam toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, hướng tới “công dân toàn cầu” và cụ thể hóa thành những phẩm chất chủ yếu là yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm và phát triển toàn diện các năng lực gồm các năng lực chung, như năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; năng lực đặc thù, như năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.

Có thể nói, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, con người Việt Nam phát triển toàn diện phải là con người có văn hóa, mang bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cùng năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, thể hiện qua phẩm chất năng lực của công dân toàn cầu. Con người Việt Nam phát triển toàn diện đức, trí, thể, mỹ phải bao gồm: Có lòng yêu nước nồng nàn từ yêu quê hương, yêu con người và yêu những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, có lòng nhân ái thể hiện qua việc yêu thương, quý trọng con người không chỉ trong phạm vi gia đình, nhà trường, quốc gia mà cả quốc tế. Đó còn là người có lý tưởng sống, có ý thức trách nhiệm, có ý chí phấn đấu không ngừng, có lối sống giản dị vì cộng đồng, hành động cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải xây dựng nền giáo dục con người có đủ sức khỏe thể chất và tâm trí để phát huy trí tuệ, tối đa hóa tiềm năng lao động sáng tạo của bản thân, có năng lực tự học suốt đời.

2. Hoạt động giáo dục phát triển toàn diện phẩm chất năng lực người học

2.1. Ý nghĩa của hoạt động giáo dục phát triển toàn diện phẩm chất năng lực người học

Công tác giáo dục phát triển toàn diện phẩm chất năng lực người học góp phần cung cấp nguồn nhân lực cao cho đất nước. Nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao là lực lượng tinh túy, quan trọng cấu thành nguồn nhân lực của quốc gia, nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước được quyết định bởi trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, hiệu quả công tác của nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao.

Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn kết chặt chẽ với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ được coi là bước đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định để cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Thực hiện tốt khâu đột phá này sẽ làm tăng tiềm lực và sức mạnh của quốc gia, tạo ra sức mạnh tổng hợp, quyết định đến thành công của việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

Hiện nay, toàn cầu hóa diễn ra ngày càng sâu rộng, các liên kết kinh tế xuất hiện và ngày càng có nhiều ảnh hưởng, thúc đẩy sự phân công lao động sâu sắc và hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu; cạnh tranh kinh tế diễn ra quyết liệt và mỗi quốc gia phải dành cho mình ưu thế trong cuộc cạnh tranh đó. Trong đó, nguồn lực con người trở thành lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ, năng động trong quá trình phát triển kinh tế; là nhân tố làm chuyển dịch lợi thế so sánh giữa các quốc gia.

Để phát triển nguồn nhân lực thành công cần có các chính sách hợp lý. Nhà nước cần chú trọng đầu tư đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực một cách tổng thể, mang tính chiến lược lâu dài, nhằm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao có cơ cấu, chất lượng hợp lý, đủ năng lực, trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Vì vậy, công tác giáo dục toàn diện phẩm chất, năng lực người học trong trường học thực sự rất cần thiết nhằm góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, phục vụ xây dựng và phát triển đất nước bền vững.

2.2. Mục tiêu của hoạt động giáo dục toàn diện phẩm chất năng lực người học ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Mục tiêu của hoạt động giáo dục toàn diện phẩm chất năng lực người học ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là:

+ Tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp.

+ Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo trình độ kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, đảm bảo đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế.

+ Tích hợp kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp để hình thành năng lực, phẩm chất cho người học.

+ Giáo dục nghề nghiệp phát triển theo hướng ứng dụng, thực hành bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật, công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế.

2.3. Phương châm giáo dục toàn diện phẩm chất, năng lực người học ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện nay

Quán triệt quan điểm giáo dục toàn diện đã được Đảng ta xác định qua các kỳ đại hội, các trường nghề cần cụ thể mục tiêu để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ giáo dục và đào tạo của từng nhà trường.

2.3.1. Giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống

Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống là nền tảng, gốc rễ ở mỗi con người. Việc giáo dục hình thành các phẩm chất trên là cả một quá trình kiên trì, nhẫn nại trong suốt thời gian đào tạo. Chúng tôi đưa ra một số nội dung đồng thời là yêu cầu trong giáo dục chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên như sau:

Một là, trung thành với Tổ quốc, chế độ Xã hội chủ nghĩa, với lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân; có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước sự tác động, lôi kéo của các thế lực thù địch trong bất cứ tình huống nào; thấm nhuần và kiên định chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng về độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng; có tinh thần yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn dân tộc sâu sắc; sẵn sàng cống hiến vì sự phát triển, hòa bình, thịnh vượng và hội nhập của đất nước.

Hai là, có phẩm chất đạo đức trong sáng; lối sống trung thực, khiêm tốn, chân thành, giản dị, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nhân ái, yêu thương con người. Nêu cao trách nhiệm của bản thân đối với sự phát triển, tiến bộ, văn minh của xã hội, cộng đồng, doanh nghiệp; biết bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của xã hội trong hoạt động nghề nghiệp. Tích cực đấu tranh đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi, tham nhũng, lãng phí, nói không với đi đôi với làm; phản đối các hành vi vi phạm đến môi trường sống và môi trường văn hóa lành mạnh của xã hội.

Ba là có phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo; làm việc khoa học, cụ thể, tới nơi tới chốn; sống giản dị gần gũi, quan tâm, hòa đồng, gương mẫu, thương yêu đồng nghiệp, cống hiến hết mình cho đơn vị công tác.

Bốn là có ý chí tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, dám đương đầu với khó khăn, thử thách vì lợi ích của tập thể; sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các công việc, nhiệm vụ được giao; thể hiện được giá trị của bản thân với xã hội, cộng đồng và đơn vị công tác.

2.3.2. Đào tạo, phát triển năng lực, chuyên môn nghề nghiệp

Theo Benjamin Bloom, nhà tâm lý giáo dục người Mỹ đã đưa ra mô hình tam giác năng lực ASK. Đây có thể coi là bộ tiêu chuẩn được các doanh nghiệp trên thế giới áp dụng phổ biến trong tuyển dụng và quản trị nhân lực cho các chức danh công việc dựa trên ba nhóm tiêu chuẩn chính: Thái độ, Kỹ năng và Kiến thức [5;112].

Thái độ thuộc về phạm vi cảm xúc, tình cảm, ý chí: là cách cá nhân tiếp nhận và phản ứng lại với thực tế. Đó là thái độ của bản thân với công việc được đảm nhiệm như: hứng thú, đam mê, nhiệt huyết, trách nhiệm, tình yêu nghề nghiệp, kiên trì, không quản ngại khó khăn, tận tâm, tận lực; thái độ ứng xử hợp lý, hài hòa với đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới; thái độ xử lý tình huống, sự kiện, công việc. Thái độ quyết định 70% năng lực cá nhân.

Kỹ năng là phương thức thực hiện các công việc, biến kiến thức thành hành động trong quá trình làm việc. Kỹ năng nghề nghiệp được hình thành từ việc hiểu kiến thức, biết vận dụng kiến thức vào hoạt động thực tiễn và khả năng sáng tạo tìm ra những cách làm hiệu quả, có được kết quả cao trong mọi tình huống. Kỹ năng nghề nghiệp bao gồm những kỹ năng cứng về chuyên môn nghiệp vụ và những kỹ năng mềm trong giao tiếp, ứng xử, hòa nhập xã hội, môi trường làm việc… Kỹ năng quyết định 26% năng lực của cá nhân.

Kiến thức: là những năng lực về thu thập, phân tích, tổng hợp, đánh giá thông tin, dữ liệu; năng lực thấu hiểu các vấn đề và ứng dụng trong thực tiễn công việc. Kiến thức là khâu đầu tiên, là nền tảng của bất kỳ lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp nào. Công việc càng phức tạp thì yêu cầu về trình độ và mức độ kiến thức càng cao. Con người càng có kiến thức rộng, bền vững là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nghề nghiệp. Tuy nhiên, kiến thức mới chỉ chiếm 4% năng lực cá nhân.

Từ mô hình năng lực con người của Benjamin Bloom có thể thấy rằng, năng lực con người quyết định phần lớn bởi thái độ của cá nhân đó với nghề nghiệp. Vì vậy, quan điểm giáo dục toàn diện hiện nay nếu chỉ chú trọng trang bị kiến thức cho sinh viên là chưa đủ mà cần phải quan tâm nhiều hơn nữa đến việc hình thành kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và những kỹ năng mềm trong cuộc sống, công việc, nhất là hình thành thái độ đúng đắn, tích cực của sinh viên đối với ngành nghề, doanh nghiệp và xã hội.

Phát triển năng lực người học chủ trương giúp người học không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra. Nói cách khác phải gắn với thực tiễn đời sống. Năng lực của người học có thể chia thành hai loại chính: Đó là những năng lực chung và năng lực cụ thể, chuyên biệt.

Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học. Đây là loại năng lực được hình thành xuyên chương trình. Một số nước có thể gọi dạng năng lực này với các tên khác nhau như: năng lực chính, năng lực nền tảng, năng lực chủ yếu, kĩ năng chính, kĩ năng cốt lõi, năng lực cơ sở, khả năng, phẩm chất chính, kĩ năng chuyển giao được.

Theo quan niệm này mỗi năng lực chung cần góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng, giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh xã hội rộng lớn và phức tạp. Dạng năng lực chung này có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người.

Năng lực cụ thể, chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học nào đó. Đây là dạng năng lực chuyên sâu, góp phần giúp mọi người giải quyết các công việc chuyên môn trong lĩnh vực công tác hẹp của mình.

Rõ ràng năng lực chung là hết sức quan trọng, đó chính là kỹ năng tối thiểu mà một con người có thể sống hòa đồng và phát triển trong một cộng đồng. Để nhận diện năng lực chung, Hội đồng châu Âu đưa ra ba tiêu chí: Thứ nhất, là khả năng hữu ích của năng lực ấy đối với tất cả các thành viên cộng đồng. Chúng phải liên quan đến tất cả mọi người, bất chấp giới tính, giai cấp, nòi giống, văn hoá, ngôn ngữ và hoàn cảnh gia đình. Thứ hai nó phải tuân thủ (phù hợp) với các giá trị đạo đức, kinh tế văn hoá và các quy ước xã hội. Thứ ba, nhân tố quyết định là bối cảnh, trong đó các năng lực cơ bản sẽ được ứng dụng.

Các thống kê cho thấy có 8 năng lực sau đây được sử dụng và nhấn mạnh ở hầu hết các hệ thống giáo dục tại các nước tiên tiến:
Tư duy phê phán, tư duy logic; Giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ; Tính toán, ứng dụng số; Đọc-viết; Làm việc nhóm - quan hệ với người khác; Công nghệ thông tin- truyền thông (ICT); Sáng tạo, tự chủ; Giải quyết vấn đề.

Những năng lực này có thể nêu ngay trong mục tiêu của chương trình GD. Từ các năng lực này mới xác định các lĩnh vực/ môn học bắt buộc cần thiết có vai trò trong việc phát triển năng lực. Sau đó phải xác định được chuẩn năng lực cho mỗi giai đoạn/cấp/lớp. Tiếp đến là xác định những năng lực mà mỗi môn học bắt buộc có thể đảm nhận. Cuối cùng mỗi môn học, các năng lực nêu trên lại được trình bày với ba nội dung: Đặc điểm của năng lực; Kết quả cần đạt về năng lực; Tiêu chí đánh giá năng lực này.

Thiết kế chương trình truyền thống thường bắt đầu từ mục tiêu giáo dục. Sau đó xác định các lĩnh vực/môn học, chuẩn kiến thức và kĩ năng, phương pháp dạy học và cuối cùng là đánh giá. Còn thiết kế chương trình theo năng lực trước hết cần xác định các năng lực chung cần trang bị và phát triển cho người học.

Từ những gì nêu ra ở trên, có thể khẳng định một số điều:
Xây dựng, thiết kế chương trình giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực người học là một xu thế tất yếu. Nó giúp người học có khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn ngay khi rời ghế nhà trường. Nói cách khác, đào tạo phù hợp với nhu cầu xã hội. Ngoài ra, với tiếp cận năng lực, người học sẽ được trang bị kỹ năng để có thể học cả đời. Đây là điều bắt buộc trong bối cảnh khối lượng tri thức tăng lên nhanh chóng như hiện nay.

Cần phân biệt năng lực chung với các năng lực riêng của môn học cụ thể. Hai năng lực này có quan hệ mật thiết với nhau, nhưng các năng lực chung rất được chú ý trong khi xem xét và đổi mới chương trình. Hai năng lực này chính là hai vế trong triết lý dạy chữ - dạy người của dân tộc ta, trong đó dạy người cần được đặc biệt chú trọng.

Nền giáo dục của nước ta từ trước tới nay chủ yếu vẫn theo tiếp cận nội dung. Điều này dẫn tới tình trạng phổ biến tri thức một chiều: thầy giảng, trò nghe; thầy đọc, trò ghi chép. Hệ lụy của hệ thống giáo dục này là người học không phát huy được tính sáng tạo do chỉ làm theo hướng dẫn của thầy, thiếu khả năng suy nghĩ độc lập và giải quyết các vấn đề thực tiễn, không có khả năng tự học và thói quen tự tìm tri thức để học, thiếu kỹ năng làm việc nhóm do học một cách thụ động.

Với triết lý giáo dục “lấy việc hình thành năng lực người học làm trung tâm, làm mục tiêu đào tạo thay cho truyền thụ kiến thức”, ngày 4/11/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Như vậy, đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục chính là chuyển giáo dục sang hướng tiếp cận năng lực.

Để thực hiện nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng năng lực, chuyên môn nghề nghiệp thì các trường học phải hình thành, phát triển năng lực thực tiễn cho người học, quán triệt yêu cầu hướng nghiệp để thực hiện phân luồng mạnh sau trung học cơ sở và bảo đảm tiếp cận nghề nghiệp ở trung học phổ thông; trao quyền và trách nhiệm tổ chức kế hoạch dạy học cho cơ sở giáo dục phù hợp với yêu cầu của địa phương, tạo điều kiện cho người học được lựa chọn môn học và hoạt động giáo dục phù hợp sở trường và nguyện vọng; phát huy tính năng động, tư duy độc lập và sáng tạo của người học. Trong đó, yếu tố được cho là quyết định chính là sự tương tác đồng bộ của các thành tố trong các phương pháp dạy học tích cực (người dạy, người học, học liệu, môi trường…). Việc kết hợp hài hòa giữa dạy kiến thức công cụ với kiến thức phương pháp, đặc biệt chú trọng dạy cách học, phương pháp tự học để người học có thể học tập suốt đời cũng là yếu tố quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới.

Từ ưu thế của các phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức dạy học mới đã triển khai trong những năm gần đây như: Phương pháp bàn tay nặn bột, giáo dục trải nghiệm sáng tạo, giáo dục STEM.... Việc đổi mới phương pháp dạy học cần được thực hiện trên cơ sở phân hóa đối tượng, các căn cứ về điều kiện, loại hình năng lực và phẩm chất cần phát triển ở người học. Cũng chính từ đó để lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học phù hợp, tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông trong tổ chức dạy học thông qua việc sử dụng các mô hình học tập kết hợp giữa lớp học truyền thống với các lớp học trực tuyến.

Cùng với việc tổ chức cho người học thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, cần coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn việc học tập ở nhà, ở ngoài nhà trường. Chú trọng đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học để nâng cao chất lượng dạy học theo chiều sâu. Tăng cường xây dựng các mô hình học tập gắn với thực tiễn; xây dựng và sử dụng tủ sách lớp học, phát triển văn hóa đọc gắn với hoạt động của các câu lạc bộ khoa học trong nhà trường. Cùng với đó cần tăng cường hơn nữa các hoạt động giao lưu, hợp tác nhằm thúc đẩy hứng thú học tập, rèn luyện kỹ năng sống, nâng cao hiểu biết về các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa thế giới…

Giáo viên tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập cần tạo ra môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề nhằm khuyến khích người học tích cực tham gia các hoạt động học tập. Chính người thầy giáo phải khơi gợi, khuyến khích học sinh tự khẳng định năng lực và nguyện vọng của bản thân, đồng thời rèn cho các em thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và vận dụng hiệu quả những kiến thức, kỹ năng đã tích luỹ. Từ đây tạo tiền đề để phát triển con người toàn diện trong bối cảnh phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0, hướng tới một nền giáo dục Việt Nam hiện đại và hội nhập quốc tế.

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là thước đo giúp xác định thành tích học tập, mức độ chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng của các em. Từ đó giáo viên sẽ điều chỉnh quá trình dạy học của mình theo hướng phát triển năng lực và các kỹ năng cho học sinh. Nếu giáo viên biết đánh giá một cách chính xác, khách quan thì sẽ khích lệ, động viên những em giỏi càng phấn đấu vươn lên để đạt thành tích cao hơn, những em yếu kém sẽ tìm cách nổ lực để cải thiện vị trí.

Đối với chương trình mới, để đánh giá chính xác về học sinh, giáo viên cần có kỹ năng thiết kế các công cụ đánh giá kết quả giáo dục thể hiện ở mức độ đạt được các năng lực cần hình thành và phát triển ở học sinh; cần biết sử dụng các phần mềm hỗ trợ đánh giá; cần có kiến thức, kỹ năng về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.

Thấu cảm là khả năng hiểu được cảm xúc, tâm trạng, đặc điểm, mong muốn, hoàn cảnh…của mỗi học sinh, đó chính là chìa khóa để đi được vào lòng học sinh, để học sinh dễ dàng mở lòng với giáo viên, có như vậy sự hợp tác giữa thầy và trò mới suôn sẽ, chất lượng giáo dục mới nâng cao.

Trong một lớp học thường sẽ có nhiều đối tượng học sinh khác nhau: có em rất giỏi nhưng cũng có em rất yếu. Có lẽ bất cứ thầy cô giáo nào cũng đều có chung mong muốn rằng không học sinh nào cảm thấy bị “bỏ rơi” trong lớp học. Người thầy thấu cảm là người nỗ lực để biên soạn, chuẩn bị bộ tài liệu tự học cho học sinh với nội dung ở nhiều cấp độ từ dễ đến khó. Với những học sinh yếu, chỉ đặt ra yêu cầu ở mức độ vừa phải với khả năng của học sinh đó. Với những học sinh học tốt, yêu cầu học sinh hoàn thành các mức độ cơ bản, sau đó, chủ động dành thời gian để tiếp cận các yêu cầu ở mức độ khó hơn. Người thầy thấu cảm sẽ phân chia thời gian trong giờ học dành cho từng đối tượng một cách hợp lý. Đặc biệt, sẵn sàng dành thời gian ngoài giờ để hỗ trợ, phụ đạo thêm cho những học sinh có lực học chưa cao. Người thầy thấu cảm sẽ hiểu từng hoàn cảnh, đặc điểm tâm sinh lý của từng em học sinh để trở thành “chiếc la bàn” điều chỉnh, dẫn lối cho các em học sinh để không bao giờ các em vấp ngã hoặc có vấp ngã cũng sẽ biết cách đứng lên.

2.3.3. Giáo dục thể chất, thẩm mỹ, ngoại ngữ

Ngoài giáo dục phẩm chất tư tưởng, đạo đức, lối sống; năng lực, chuyên môn nghiệp vụ, các nhà trường cần coi trọng các hoạt động giáo dục thể chất, thẩm mỹ và ngoại ngữ.

Thể chất là một phẩm chất quan trọng không thể thiếu góp phần hình thành một con người có sức khỏe, đạo đức và năng lực. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, giáo dục thể chất có vai trò quan trọng trong sự phát triển của cơ thể. Một cơ thể khỏe mạnh, dẻo dai góp phần tăng cường trí thông minh, củng cố trí nhớ. Vì vậy, giáo dục thể chất và tự rèn luyện của sinh viên là hoạt động thường xuyên nhằm không ngừng nâng cao sức khỏe, sức đề kháng góp phần tạo nên tâm thế mới khi bước vào học tập, công tác.

Phẩm chất thẩm mỹ là năng lực cảm nhận cái đẹp của con người trong tự nhiên, trong đời sống, trong nghệ thuật và trong các mối quan hệ giữa người với người. Theo đó, các nhà trường cần hình thành ở học sinh, sinh viên thị hiếu thẩm mỹ, năng lực đánh giá cái đẹp, biết cảm nhận cái đẹp để từ đó sinh viên có hành động phù hợp nhằm giữ vững, bảo vệ cái đẹp và sáng tạo ra những sản phẩm mang tính thẩm mỹ cao cho đời sống xã hội.

Trình độ ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh thành thạo là chiếc “chìa khóa” vạn năng giúp cho sinh viên mở rộng cánh cửa nghề nghiệp ra với thế giới trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay. Trong xu thế đó, tiếng Anh không còn là yếu tố “cộng điểm”mà là tiêu chí quan tâm hàng đầu của cộng đồng, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nhiều thành công của cá nhân và doanh nghiệp. Việc chú trọng đào tạo ngoại ngữ trong các trường học là quan trọng và sự nỗ lực, tích cực, chủ động của sinh viên mang tính quyết định.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban chấp hành Trung ương (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 2/11/2013, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb CTQG-ST, H, tr.203 – 204.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, tr.47-48.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb CTQG-ST, H, tr.327, tr.329.

5. Hội tâm lý giáo dục Việt Nam (2020), Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia “Giáo dục phát triển toàn diện: thực trạng và giải pháp xét từ bình diện tâm lý học và giáo dục học”.

6. Luật Giáo dục số 43/2019/QH khóa XIV.

7. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG-ST, H, tr.309.

8. Hoàng Phê (chủ biên) (2005), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, Thanh Hóa.

9. Lê Doãn Sơn (2018), Xây dựng và phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 8.

10. Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Nghệ An, Báo cáo tự đánh giá Hệ thống bảo đảm chất lượng các năm 2018, 2019, 2020, Tài liệu lưu hành nội bộ.

 

 

 

 

 

 

 

 

Liên kết hữu ích

THÔNG TIN TUYỂN SINH NĂM 2020

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ

THÔNG BÁO HỌC SINH, SINH VIÊN

VĂN BẢN

Điểm thi

Thiết kế website tại Vinh

công ty quảng cáo tại nghệ an